Bệnh viêm xoang là một chứng bệnh về đường hô hấp (tai mũi họng) rất phổ biến ở nước ta hiện nay. Khi môi trường sống ngày càng ô nhiễm trầm trọng, khói bụi, hóa chất độc hại ngày một nhiều lên, tỷ lệ người mắc bệnh viêm xoang cũng vì thế mà tăng lên đáng kể. Để phòng tránh cho bản thân và gia đình, bạn nên trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về căn bệnh này. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn có được điều đó.

Bệnh viêm xoang là gì?

Bệnh viêm xoang và những biến chứng nguy hiểm
Bệnh viêm xoang.

Xoang là những hốc xương rỗng nằm trong khối xương sọ mặt, ở xung quanh mũi và thông với hốc mũi. Điều này giúp cho đầu chúng ta trở nên nhẹ nhàng và cử động dễ dàng hơn. Mặt trong xoang được lót bởi lớp niêm mạc liên tục với niêm mạc của hốc mũi, vì vậy chúng cũng có tác dụng làm ấm, làm ẩm và lọc không khí từ bên ngoài đi vào. Bên cạnh đó, xoang góp phần làm cho mỗi người trong chúng ta có một giọng nói riêng do thể tích và cấu trúc xoang khác biệt, không khí đi ra khi chúng ta nói va đập vào các thành xoang tạo nên những âm thanh đa dạng.

Mỗi người trưởng thành có năm đôi xoang, được chia làm hai nhóm: nhóm xoang trước (gồm xoang sàng trước, xoang trán, xoang hàm) thông với mũi qua các lỗ ở phía trước, nhóm xoang sau (xoang sàng sau, xoang bướm) thông với mũi qua các lỗ ở phía sau trên.

Bình thường, các lỗ của xoang thông thoáng, dịch do xoang tiết ra và không khí luôn có sự lưu thông. Khi những lỗ này bị tắc nghẽn, sự lưu thông bị ngừng trệ sẽ dẫn tới viêm xoang. Nếu bệnh chỉ diễn biến trong vòng bốn tuần thì được gọi là viêm xoang cấp tính. Khi kéo dài trên tám tuần hoặc lâu hơn, bệnh trở thành viêm xoang mạn tính.

Nguyên nhân của bệnh viêm xoang

Bạn đã biết khi các lỗ của xoang không thông sẽ dẫn tới viêm xoang. Do vậy, bất kỳ nguyên nhân nào khiến các lỗ này bị tắc nghẽn đều là nguyên nhân của viêm xoang dị ứng. Chúng có thể do:

Các lỗ bị phù nề, viêm dính:

  • Viêm nhiễm: nhiễm khuẩn đường mũi, họng (viêm mũi, viêm họng, viêm amidan,…), bệnh răng miệng (sâu răng. viêm lợi,…), virus (cúm,…), nhiễm nấm,..
  • Dị ứng: dị ứng phấn hoa, hóa chất, lông súc vật,… viêm xoang do dị ứng thường dễ trở thành mạn tính.
  • Ô nhiễm môi trường: khói bụi, hóa chất,… vừa có thể là nguyên nhân gây viêm nhiễm, vừa có thể là tác nhân gây dị ứng.

Tăng lượng dịch trong xoang:

  • Niêm mạc xoang tiết quá nhiều dịch: trong viêm nhiễm, tổn thương niêm mạc xoang, rối loạn nội tiết: tiểu đường, rối loạn nước và điện giải,…
  • Chảy máu, tụ máu trong chấn thương.
  • Cấu trúc lỗ xoang bất thường: do dị hình vách mũi, khe mũi, các khối u nhỏ trong xoang, hốc mũi,…

Triệu chứng của bệnh viêm xoang

Bệnh viêm xoang và những biến chứng nguy hiểm
Triệu chứng bệnh viêm xoang.

Viêm xoang gây đau nhức, chảy dịch, nghẹt mũi, điếc mũi. Viêm xoang nhẹ khó phát hiện: chỉ có một triệu chứng đơn độc mà thôi. Viêm xoang nặng dễ phát hiện: có ít nhất 3 triệu chứng trên. (Cần phân biệt viêm xoang với với bệnh viêm mũi dị ứng. Bệnh viêm mũi dị ứng thường gây ra các triệu chứng: Ngứa mũi, hắt hơi liên tục thành tràng dài vào buổi sáng hoặc khoảng 10h tối, thường có chảy dịch mũi trong suốt, không màu và nghẹt mũi ; viêm xoang hàm do răng.chỉ xoang hàm một bên viêm nặng mà thôi do vi khuẩn từ sâu răng đưa vào xoang. Mủ chảy vào mũi, rất hôi).

Đau nhức:

Vùng bị nhức tùy theo xoang bị viêm:

  • Xoang hàm: nhức vùng má.
  • Xoang trán: nhức giữa 2 lông mày. Có giờ nhất định, thường là 10 giờ sáng.
  • Xoang sàng trước: nhức giữa 2 mắt.
  • Xoang sàng sau, xoang bướm: nhức trong sâu, nhức vùng gáy.

Chảy dịch

Viêm xoang thường gây ra hiện tượng chảy dịch, tùy thuộc vào vị trí xoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chảy ra phía mũi hoặc xuống họng. Viêm các xoang trước thì dịch chảy ra mũi trước. Viêm các xoang sau thì dịch chảy vào họng. Triệu chứng chảy dịch làm cho người bệnh có cảm giác luôn phải khụt khịt mũi hoặc cảm giác lờ đờ ở cổ họng luôn muốn khạc nhổ. Tùy theo mức độ bệnh nặng hay nhẹ, bệnh mới bị hay bị lâu năm, dịch nhầy sẽ có màu trắng đục, màu vàng nhạt hoặc màu xanh, có mùi hôi, khẳn.

Nghẹt mũi

Mũi có thể nghẹt 1 bên, có thể nghẹt cả 2 bên.

Điếc mũi

Viêm xoang nặng, phù nề nhiều ngửi không biết mùi do mùi không len lỏi lên đến thần kinh khứu giác.

7 Biến chứng nguy hiểm của viêm xoang có thể bạn chưa biết

Bệnh viêm xoang và những biến chứng nguy hiểm
Biến chứng của viêm xoang.

Biến chứng của bệnh viêm xoang thường rất nặng, có thể đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân. Viêm dây thần kinh hốc mắt, viêm họng, viêm phế quản, viêm màng não, áp-xe não, viêm tắc tĩnh mạch xoang hang, viêm xương… là các biến chứng đáng lưu ý của căn bệnh này.

Biến chứng của bệnh viêm xoang thường rất nặng, có thể đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân. Viêm dây thần kinh hốc mắt, viêm họng, viêm phế quản, viêm màng não, áp-xe não, viêm tắc tĩnh mạch xoang hang, viêm xương… là các biến chứng đáng lưu ý của căn bệnh này.

Các biến chứng tùy thuộc vào lứa tuổi, cơ địa bệnh nhân và vị trí bị viêm nhiễm. Thường những người bị suy giảm miễn dịch, mắc các bệnh mãn tính như đái tháo đường, bệnh polype mũi, lệch vách ngăn mũi hay người bị nhiễm cầu khuẩn Streptococcus, Stapylocossus rất dễ gặp biến chứng nguy hiểm khi bị viêm xoang. Trường hợp viêm xoang do nấm ít gặp biến chứng.

1. Biến chứng ở mắt

Những biến chứng ở mắt thường rất dễ xảy ra, do phía trước hốc mắt là xoang hàm, phía trên là xoang trán, phía trong là xoang sàng và xoang bướm. Nguyên nhân chủ yếu là do viêm xoang sàng, một số ít là viêm xoang hàm, với xoang trán ít gặp hơn. Quá trình viêm nhiễm lan tỏa hoặc theo đường mạch máu từ xoang qua hốc mắt gây nên các biến chứng tại mắt.

Viêm mô liên kết quanh hốc mắt: Thường gặp ở người viêm xoang cấp tính. Bệnh nhân đau nhức mắt dữ dội, đau xuyên lên đỉnh đầu. Mi mắt sưng phù. Viêm nhiễm có thể lan cả vùng thái dương khiến khó khám nhãn cầu và đánh giá mức độ lồi mắt.

Viêm dây thần kinh thị giác: Gặp đến 60% trường hợp do viêm xoang sàng sau và xoang bướm. Thị lực bệnh nhân đột nhiên giảm hẳn mà khám chuyên khoa mắt, soi đáy mắt không tìm thấy nguyên nhân.

Áp-xe mi mắt: Do viêm xoang trán hoặc xoang sàng gây áp-xe mi trên, hay viêm xoang hàm gây áp-xe mi dưới. Mí mắt sưng to, nóng, đỏ, đau, kết mạc xung huyết. Túi mủ sẽ vỡ ra sau 4 – 5 ngày.

Áp-xe túi lệ: Tình trạng này thường gặp trong viêm xoang cấp do xương lệ mỏng và có ống lệ tỵ thông mắt với mũi xoang. Biểu hiện là góc trong mắt sưng nề, đỏ lan đến mi mắt và toàn bộ kết mạc. Bệnh nhân sốt và nhức mắt, khi mủ vỡ ra thì có thể hết nhức và tạo ra lỗ dò mạn tính sau này.

2. Viêm họng mạn tính

Bệnh nhân thường đau họng, nuốt vướng do dòng mủ liên tục từ xoang chảy xuống họng. Ngoài ra, các triệu chứng thường thấy là đầy bụng, ợ hơi, nghẹt thở, đánh trống ngực… Bệnh nhân thường bị chẩn đoán nhầm là đau dạ dày.

3. Viêm phế quản mạn tính

Viêm xoang hàm và xoang sàng thường gây ra biến chứng này. Bệnh nhân không nhức đầu, không nghẹt mũi mà đi khám vì ho, khạc ra đờm đôi khi cả máu, sốt nhẹ về chiều, ăn kém ngon. Triệu chứng giống với bệnh lao nhưng khi xét nghiệm đờm, chụp phổi, tốc độ máu lắng, BCG test… đều không có biểu hiện bệnh lao. Khám tai mũi họng thấy mủ ở khe giữa, X-quang Blondeau, Hirtz thấy hình ảnh mờ xoang.

4. Viêm màng não

Viêm màng não có thể xuất hiện tự phát hoặc sau phẫu thuật. Bên cạnh viêm màng não điển hình còn có thể viêm màng nhện. Trong thể này không có sự thay đổi của dịch não tủy, không sốt mà màng nhện và màng nuôi dính lại và tạo thành một lớp bọc chặt lấy dây thần kinh sọ gây đau đầu, mờ mắt, ù tai…

5. Áp-xe não, viêm não

Vỏ não có thể bị viêm vùng tiếp xúc với thương tổn màng não, thương tổn xương. Quan trọng nhất là áp-xe đại não, thùy trán. Dấu hiệu thay đổi tính tình xuất hiện sớm nhất. Các triệu chứng định khu như liệt ít xuất hiện. Hội chứng viêm nhiễm và tăng áp lực sọ não thường xuất hiện rất rõ. Tiên lượng không tốt khi có áp-xe thùy trán.

6. Viêm tắc tĩnh mạch hang

Có thể do viêm xoang bướm hay do viêm tấy ổ mắt gây ra. Triệu chứng bệnh xuất hiện một cách ồ ạt, sốt cao, rét run, nhức đầu, cứng gáy. Màng tiếp hợp bị phù nề, đỏ bầm, nhãn cầu lồi phía trước, kém di động, gai mắt nề. Bệnh thường lan nhanh ra hai bên mắt. Tiên lượng rất nặng, trước khi có kháng sinh thì tỉ lệ tử vong rất cao.

7. Biến chứng xương

Nguyên nhân thường do viêm tắc mạch máu ở xương trán, sọ. Bệnh bắt đầu ở xương trán và lan rộng dần ra các xương khác của sọ như xương thái dương, xương đỉnh… Bệnh nhân đau nhức ở xương trán sau đó thấy sưng một vùng xoang trán, hình thành ổ áp-xe. Rạch ổ áp-xe thấy xương trán bộc lộ màu xám, dễ chảy máu do viêm. Dưới lớp xương viêm nếu dùng kìm cắt xương thấy mủ trong xương, dưới là lớp màng não cứng. Quá trình viêm có thể lan rộng ra các xương nếu không điều trị kịp thời.

Đông y Tâm Lĩnh (tổng hợp)


Có thể bạn quan tâm